Thứ Ba, 31 tháng 5, 2022

QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU

  Quê Hương Và Tình Yêu

Tác giả: Dương Lam[vophubong]

QUÊ HƯƠNG VÀ TÌNH YÊU 



Em sắp say rồi !!! Uống nữa thôi ? 
Cờ chưa tan cuộc vẫn còn chơi !!! 
Giang hồ gác mái bên sông vắng, 
Trăng nước thuyền khua- một trận cười . 



Tình vẫn tràn như dòng nước chảy, 
Thơ còn đầy tựa áng mây trôi. 
Nửa đêm thức giấc hồn ngơ ngác, 
Rưọu hết tìm em - tận cuối trời… 



Cuối trời xin hẹn gặp lại em, 
Cho ấm bờ vai mắt hữu tình. 
Cho thắm bờ môi ngày tái ngộ, 
Cho nồng hương lữa kiếp ba sinh, 




Duyên xưa xuân đến bao lần gặp, 
Tình cũ thu đi chẳng dễ tìm . 
Rượu hết bên nhau chìm lối mộng, 
Hoa đào một cánh nở nguyên trinh… 



Nguyên trinh còn lại bao xuân nữa, 
Lữa lựu hè sang đỏ thắm tường. 
Bạn cũ trở về say hẹn ước, 
Người xưa nhớ lại lúc tha hương. 




Hoa trôi bến chợ đời lưu lạc, 
Dế gọi vườn hoang cảnh đoạn trường. 
Mẹ ngóng tin con mòn mõi đợi, 
Tiếng gà xao xác gáy thềm sương. 



Thềm sương tiếng cuốc gọi bên hè, 
Giọng chị hò ơ dưới luỹ tre . 
Giã gạo nuôi em ngày mẹ yếu, 
Bồng con đứng đợị buổi anh về . 



Canh rau tối ngủ còn lưng bụng, 
Cơm nguội khuya nằm dạ tái tê . 
Những tưởng ngày xuân tràn mộng đẹp, 
Nào hay mưa dột chẳng tranh che. 



Tranh che ta đắp bằng hương lữa, 
Môi giữa bờ môi giữ mặn nồng . 
Chẳng có chăn bông ngày ấm lạnh , 
Không thuyền đưa đón buổi qua sông. 

10 


Em thơ lội bộ giờ đi học, 
Mẹ yếu thâu đêm bắt muỗi mòng . 
Cảnh khổ ngày xưa ngồi nhớ lại, 
Qua rồi năm tháng những long đong. 

11 

Long đong trên bước đường lưu lạc, 
Bốn hướng về đâu dặm hải trình. 
Biển rộng trời cao bằng sãi cánh, 
Sông dài núi thẳm gót phiêu linh. 


12 

Công cha nghĩa mẹ còn chưa trả, 
Ơn chị tình em hẹn đáp đền. 
Nắng nhuộm rừng phong. Thu đã tới, 
Bên hồ từng chiếc lá lênh đênh... 

13 

Lênh đênh như chiếc thuyền không bến, 
Dòng ngược dòng xuôi vạn nẽo đời. 
Trên bến dưới thuyền người tấp nập, 
Sông hồ nước chảy lục bình trôi. 


14 

Sáng qua Phú Quốc trời êm ả, 
Chiều ghé Côn sơn núi vẽ vời. 
Mây nước xa trông về cố quận, 
Nỗi lòng thương nhớ biết sao vơi... 


15 


Sao vơi lòng biển tình sông đó, 
Cuả kiếp giang hồ với nước mây. 
Lên bến đò chiều thương kẻ bắc, 
Qua sông nắng sớm nhớ trời tây. 

16 

Thơ vương khói thuốc sầu vương nhạc, 
Rượu hết đàn run phím lạc dây. 
Cô lái đò xưa đưa lữ khách, 
Sông buồn đôi mắt thấy cay cay… 

17 

Cay cay đôi mắt chiều xuân đó, 
Cô gái ngày xưa chẳng trở về. 
Gió núi đèn khuya vàng phố thị, 
Trăng rừng sương lạnh trắng sơn khê . 

18 


Hoa không vạn cổ mà phong nhụy 
Tình chẳng trăm năm cũng vẹn thề. 
Lời của trăng nguyền dù bến cạn, 
Rừng xanh núi thẳm chẳng phân ly… 


19 

Ly hương gặp lại mùa hoa nở, 
Chim én bên trời vụt cánh bay, 
Nhạn lạc bầy tìm nhau biển bắc, 
Anh tìm em lội khắp trời tây. 

20 

Sáng lên New York sương mờ lạnh, 
Chiều lại Boston tuyết phủ cây... 
Anh trở về vui lòng phố thị , 
Em về rượu uống trắng đêm say... 

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2022

LICH SU

Lịch Sử

LỊCH SỬ

Tiệc chửa tàn canh,rượu chửa say
Còn đây ta hẹn khúc quanh nầy…
Quyết thề giữa trận vung tay kiếm
Cùng hẹn bên trời đạn xé mây[1­
Đất Tống bao lần thành quách đổ [2]
Trời Nam muôn thủơ rạng kỳ đài
Sân nhà giặc đến toàn dân đánh
Hàm tử [3],Chi Lăng[3]…xác giặc đầy…

voduonghonglam [vophubong]


NOTES:
----------


[1]Đạn pháo binh… bắn vòng cầu, xé mây đi…

[2­­]
Lý Thường Kiệt đánh Tống, 1075-1076
Năm 1075, Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với Đại Việt.
Vua Lý biết tin, sai ông và Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh. Quân bộ gồm 60.000 người do các tướng Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc[8], Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An chỉ huy, tổng chỉ huy là Tôn Đản. Bộ binh tập trung ngay ở các châu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu rồi tràn sang đánh các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, châu Tây Bình, Lộc Châu. Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo, "quân ta tới đâu như vào nhà trống không người"[9].
Lý Thường Kiệt chỉ huy 40.000 quân thủy cùng voi chiến đi đường biển từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm; Tông Đản vây châu Ung. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Nam tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076, Liêm Châu cũng thất thủ[10].
Khi được tin hai châu Khâm, Liêm đã mất, nhà Tống rất hoang mang, lo ngại, các tướng ở địa phương bối rối. Ti kinh lược Quảng Nam tây lộ vội vã xin viện binh: 20.000 quân, 3.000 con ngựa, xin thêm khí giới, đồ dùng và một tháng lương, và xin được điều động các dân khê động, tất cả lấy dọc đường từ Kinh đến Quảng Tây. Để điều khiển quân được mau chóng, ti ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía bắc Ung Châu[11].
Trong lúc bối rối, triều đình Tống đối phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây.
Trên các mặt trận, quân Lý hoàn toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, dường như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại vây chặt lấy Ung Châu.
Ung Châu là một thành lũy kiên cố, do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết cố thủ.
Đô giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Lý Thường Kiệt đón đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay thuộc thành phố Nam Ninh, khu tự trị Quảng Tây) phá tan được, chém Trương Thủ Tiết tại trận.
Tri Ung Châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân Đại Việt đánh đến hơn 40 ngày. Sau cùng quân Việt dùng hỏa công, bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành, trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy. Cuối cùng quân Nam bắt dân Tống chồng bao đất cao đến hàng trượng để họ trèo lên thành. Ngày thứ 42, thành bị hạ, tướng chỉ huy Tô Giám tự thiêu để khỏi rơi vào tay quân Lý[12]. Người trong thành không chịu hàng, nên bị giết hết hơn 58.000 người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 100.000[12], tuy nhiên quân Lý cũng tổn thất đến một vạn người và nhiều voi chiến[11].
Lý Thường Kiệt làm cỏ xong thành Ung, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe thấy quân Nam kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy trốn[13]. Mục tiêu hoàn thành, Lý Thường Kiệt cho rút quân về.
Lý Thường Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về nước. Nhà Lý cho những người phương bắc đó vào khai phá vùng Hoan - Ái (Thanh - Nghệ).

[3­
Trận Hàm Tử - Tây Kết Để phòng thủ mặt phía Nam của thành Thăng Long, quân Nguyên dựng 2 căn cứ liền kề nhau ở hai bờ sông Hồng, một ở Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử - nay ở Khoái Châu, Hưng Yên) và một ở Chương Dương Độ (bến Chương Dương - nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội). Tháng 5, Trần Quang Khải dẫn quân tấn công đồng thời 2 căn cứ này.
Toa Đô và Ô Mã Nhi ở Thanh Hoá, Nghệ An giao chiến với quân Trần do Trần Quang Khải chỉ huy mấy lần đều bị đẩy lui. Lương thực gần cạn, tới mùa hè nóng bức, quân Nguyên không hợp thời tiết, hai tướng bèn bỏ ý định truy tìm vua Trần mà vượt biển ra bắc để hội binh với Thoát Hoan.
Trần Quang Khải thấy quân Nguyên rút ra bắc bèn báo với vua Trần. Vua Trần cùng các tướng nhận định rằng: Quân Nguyên nếu còn mạnh, ắt truy kích vua Trần từ hai mặt nam bắc; nay cánh phía bắc không tới, cánh phía nam rút đi tức là đã mỏi mệt. Nhà Trần xác định đây là thời cơ phản công [41].
Trần Nhân Tông sai Trần Nhật Duật làm chánh tướng, Chiêu Thành Vương[42] và Trần Quốc Toản làm phó tướng đi cùng với Nguyễn Khoái mang 5 vạn quân ra bắc đuổi đánh Toa Đô. Trong quân Trần Nhật Duật có tướng người Trung Quốc của nhà Tống cũ là Triệu Trung theo hàng.
Trần Nhật Duật gặp binh thuyền Toa Đô ở bến Hàm Tử, bèn chia quân ra đánh. Hai bên chống nhau ác liệt. Toa Đô đi đường xa, giao chiến lâu ngày đã mỏi mệt, trông thấy cờ hiệu Tống của Triệu Trung, lo lắng tưởng rằng nhà Tống đã khôi phục sang giúp Đại Việt. Nhóm quân người Hoa trong hàng ngũ quân Trần đều muốn trả thù nên đánh rất hăng.
Trong khi đó quân Trần lại dùng kế ly gián, bắn tên gắn giấy sang bên quân Nguyên, nói rằng chỉ đánh người Thát Đát chứ không đánh người Hoa. Điều đó khiến nhiều tướng sĩ người Hoa trong quân Nguyên không tận lực chiến đấu hoặc trở giáo sang hàng quân Trần. Toa Đô bị thua to. Sau khi thua trận ở Hàm Tử Quan, Toa Đô vẫn không biết rằng Thoát Hoan đã tháo chạy. Cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc[12](đoạn sông Hồng ở Hưng Yên) và tìm cách liên lạc với ông. Được ít ngày, Toa Đô biết tin quân Thoát Hoan đã thất bại và rút chạy, bèn lui về Tây Kết (Khoái Châu).Ngày 24 tháng 6 năm 1285, Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy quân đánh Toa Đô. Toa Đô và Ô Mã Nhi thua, bỏ thuyền đi đường bộ ra phía biển. Trên đường chạy, Toa Đô bị quân Đại Việt bao vây, sau cùng bị tướng Vũ Hải của nhà Trần chém đầu. Ô Mã Nhi thì chạy thoát về Thanh Hóa. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vua Trần Nhân Tông trông thấy thủ cấp của Toa Đô thì cởi áo ngự phủ lên và nói "người làm tôi phải nên như thế này" rồi sai người khâm niệm tử tế.
Sử liệu dẫn khác nhau về các tướng tham chiến. Có tài liệu cho rằng Trần Nhật Duật cùng Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái và Triệu Trung cùng đánh trận Hàm Tử [41], có tài liệu dẫn rằng chỉ có Trần Nhật Duật và Triệu Trung đánh Hàm Tử, còn Nguyễn Khoái và Trần Quốc Toản đánh trận Tây Kết.[43]
[4­
Trận Chi Lăng Tháng 9 năm 1427, Liễu Thăng đi đường Quảng Tây, Mộc Thạnh đi đường Vân Nam sang cứu Vương Thông. Đường Liễu Thăng đi dự tính từ Lạng Sơn, qua Xương Giang để vào Đông Quan. Lê Lợi sai Lê Sát cùng Lê Văn Linh, Lưu Nhân Chú mang 2 vạn quân và 5 voi trận lên ải Chi Lăng đón đánh.
Ngày 8 tháng 10, cánh quân Liễu Thăng tiến vào Việt Nam. Lê Sát đặt phục binh ở Chi Lăng rồi sai tướng giữ ải là Trần Lựu mang quân ra đánh nhử, giả thua, trước tiên bỏ ải Pha Lũy về ải Chi Lăng. Quân Minh hăng hái tiến lên giành ải Pha Lũy, rồi tiến đến Chi Lăng. Ngày 20 tháng 9 (10/10 dương lịch), hai bên lại đụng nhau ở Chi Lăng, Trần Lựu lại thua chạy. Liễu Thăng dẫn quân tiên phong tiến lên trước, Lê Sát và Lưu Nhân Chú đổ ra đánh, chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên cùng hơn 1 vạn quân Minh.

nguon :Wikipedia
info poem

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

AUDIO BOOKS

 

AUDIO BOOKS

 

MÓN QUÀ DÀNH CHO QUÝ VỊ CAO NIÊN, MẮT KÉM: 
AUDIO BOOKS
Click ngay các hàng tựa  đề màu xanh để trực tiếp mở  tùy chọn .
 
 
Hơn Nửa Đời Hư (Vương Hồng Sển) (4-Apr-2013)
Đường Tự Do Saigon (Nhã Ca) (4-Apr-2013)
Cánh Đồng Bất Tận (Nguyễn Ngọc Tư) (4-Apr-2013)
Nắng Thu (Nhất Linh) (4-Apr-2013)
Tru Tiên (Tiêu Đỉnh)   26-Mar-2013
Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà (Victor Hugo)   26-Mar-2013
Tiểu Thuyết Hồ Biểu Chánh (5 quyển)   26-Mar-2013
o  Bạch Mã Khiếu Tây Phong (Kim Dung) 26-Mar-2013
o   Sở Lưu Hương (Cổ Long)
o   Những Người Thích Đùa (Azit Nezin)
o   Bố Già (Mario Puzo, Ngoc Thu Lang). ị chọn.
 
 
 
o   Tiểu Thuyết Quỳnh Dao (Bóng Hoàng Hôn, Em là Canh Hoa Rơi, Hoàn Châu Công Chúa, Tam Độ Mai, Xóm Vắng)
o   Thần Điêu Hiệp Lữ (Kim Dung)
o    Hiệp Khách Hành (Kim Dung)
o    Âm Thanh và Ngôn Từ (Thế Ngữ Trần Như Vĩnh Lạc) đài VOVN Houston Texas
o    Papillon, Người Tù Khổ Sai (Henri Charrière)
o    Không Gia Đình (Hector Malot)
o    139 Chuyện ngắn do Sơn Huy và Thục Quyên đọc trên đài Radio VOVN (Houston Texas)
o    Tế Điên Hòa Thượng (Cu sĩ Khánh Vân)
o    Quê Hương Mến Yêu (Radio VOVN Houston)
o    Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa (audiobook)
o    Tam Quốc Diễn Nghĩa (film audio track)
o    Liêu Trai Chí Dị (Bồ Tùng Linh)
o    Bảy Mươi Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 - 2000) SBS radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn
o    Chương Trình Có Những Niềm Riêng Hồng Khuê (Radio VOVN Houston Texas)
o    Chương trình Thơ Nhạc Bích Huyền (9-Feb-2013 thêm 50 chương trình Thơ Nhạc của Bích Huyển trên đài VOA)
o    Tuyển tập truyện ngắn Quê Mẹ (Thanh Tịnh), Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười (Nguyễn Hiến Lê)
o    Những Ngày Thơ Ấu (Nguyên Hồng),
o    Gió lạnh đầu mùa (Thạch Lam)
o    Lạnh Lùng (Nhất Linh)
    Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân)